13 thg 1, 2015

Hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình

- Này hiền giả, vị Tỳkhưu lúc nào cũng quét dọn là điều không hợp lẽ. Tỳkhưu chỉ nên quét dọn vào buổi sáng, rồi đi khất thực, khi về đến Tự viện, ngồi vào chỗ ngồi ban ngày hay ban đêm, đưa tâm quán xét về thể trược, để thấy được sự sinh diệt của “năm nhóm”, hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình, đừng lãng phí thời gian quét dọn như thế.

Lối sống an tịnh viễn ly của Đức Revata làm cho Trưởng lão Sammajjana (còn viết là
Sammuñjanī) hiểu lầm là “Ngài Revata biếng nhác”.

Trưởng lão có tên là Sammajjana vì lúc nào Ngài cũng quét dọn, một hôm thấy Tôn giả Revata ngồi yên lặng nơi chỗ ngồi ban ngày, nên nói rằng:

- Vị trưởng lão này lười nhác quá, dùng vật thực tín thí xong rồi, đi đến đây ngồi yên, cầm chỗi quét dọn cũng không làm.

Đức Revata suy nghĩ: “Ta nên giáo giới Tỳkhưu này”, Ngài bảo rằng:

- Này hiền giả, hiền giả đi tắm rữa xong rồi đến đây.

Trưởng lão Sammajjana đi tắm rữa xong, đến viếng Ngài Revata. Ngài Revata giáo giới Trưởng lão Sammajjana rằng:

- Này hiền giả, vị Tỳkhưu lúc nào cũng quét dọn là điều không hợp lẽ. Tỳkhưu chỉ nên quét dọn vào buổi sáng, rồi đi khất thực, khi về đến Tự viện, ngồi vào chỗ ngồi ban ngày hay ban đêm, đưa tâm quán xét về thể trược, để thấy được sự sinh diệt của “năm nhóm”, hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình, đừng lãng phí thời gian quét dọn như thế.

 Nghe lời giáo giới của Đức Revata, Trưởng lão Sammajjana nỗ lực hành pháp, chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán.

Từ khi ấy, trong Tự viện có nhiều chỗ rác ứ động, các Tỳkhưu nói với Trưởng lão Sammajjana rằng:

- Này hiền giả Sammajjana, trong Tự viện có nhiều chỗ rác ứ động, vì sao hiền giả không quét dọn?

- Thưa chư hiền, trước đây tôi dễ duôi phóng dật quét rác, giờ đây tôi không còn dễ duôi quét rác nữa.

Các Tỳkhưu mang việc này trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này các Tỳkhưu, thật vậy con Như Lai giờ đây không còn dễ duôi quét dọn nữa, con Như Lai sống an tịnh phát sinh từ Đạo quả.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:

Yo ca pubbe pamajjitvā, pacchā so nappamajjati;
Somaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttova candimā’ti.

“Ai trước sống buông lung; sau sống không phóng dật.
Chói sáng rực đời này; như trăng thoát mây che” (HT. TMC dịch)(2)

.

Đức Phật Và 45 Năm Hoàng Pháp Độ Sinh(Tập 6)
Tk Chánh Minh

9 thg 1, 2015

Nhiều lần và nhiều lần

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya.
3) Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
4) Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya...
5) Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn:
- Tham lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần!
(Thế Tôn):
Nhiều lần và nhiều lần,
Chúng gieo vãi hạt giống.
Nhiều lần và nhiều lần,
Trời mưa đi, mưa lại.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người nông phu cày ruộng.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lúa gạo đến quốc độ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Hành khất lại xin ăn.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ lại bố thí.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ sau khi cho.
Nhiều lần và nhiều lần,
Ðược đi đến thiên giới.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người làm sữa vắt sữa,
Nhiều lần và nhiều lần,
Bò con tìm bò mẹ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.
Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại.
7) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

(Kinh Tương Tưng Bộ, Thiên 1; Chương VII, Phẩm Cư Sĩ, II. Udaya

5 thg 1, 2015

Khi hôn trầm thụy miên sinh khởi, phải trừ diệt ra sao?

Đáp:
Trong kinh có ghi nhận: Khi Đức Moggallāna xuất gia trong giáo pháp này, Ngài tinh cần hành đạo, nhưng bị phiền não là hôn trầm chiếm ngự tâm, khi hành thiền Ngài bị ngủ gục.
Với thiên nhãn, Đức Thế Tôn trông thấy Ngài Moggallāna (Mụckiềnliên) đang ngủ gục (pacalāyamāno) trong làng Kallavāḷamutta, Đức Thế Tôn dùng thần thông xuất hiện trước mặt Ngài Moggallāna và chỉ dạy phương pháp trừ diệt hôn trầm, có bảy cách như sau:[185]
- Này Moggallāna, khi nào ngươi trú có tưởng (saññissa) [186] và thụy miên xâm nhập ngươi,chớ có tác ý đến nó (mā manasikāra), chớ có tưởng nhiều đến nó (saññaṃ mā bahulaṃ akāsi).Sự kiện này có thể xảy ra, do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Đoạn kinh trên có nghĩa là: Khi nhận biết tâm đang bị thụy miên xâm nhập, hành giả đừng nghĩ đến việc ngủ, đừng suy nghĩ nhiều về “ngủ nghỉ”.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, với tâm của ngươi, hãy tùy tầm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Sự kiện này có thể xảy ra, do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Tức là khi thấy thụy miên xâm nhập tâm, hãy quán xét pháp đã được nghe được học, để làm tăng trưởng sức mạnh của Tầm, Tứ. Khi Tầm, Tứ có sức mạnh thì hôn trầm , thụy miên bị đẩy lui.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Sự kiện này có thể xảy ra do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Tức là tụng kinh nhiều lên, do đó thụy miên có thể bị diệt trừ.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy kéo (āvijeyyāsi) hai lỗ tai và lấy tay xoa bóp chân của ngươi. Sự kiện này có thể xảy ra .....
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy từ chỗ ngồi đứng dậy,lấy nước rữa mắt (anumajjati), nhìn về phía chân trời, nhìn lên các vì sao nhấp nhánh (tārakarūpāni).Sự kiện này...
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy tác 1y đến quang tưởng....
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy trú tâm trên chỗ kinh hành (cankamam), với tưởng trước mặt, tưởng sau lưng (pacchāpuresaññī), với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này...
Giải:
“Tưởng trước mặt và sau lưng” là lưu ý khoảng cách gần ở trước mặt hay những biến chuyển (do đi) ở gần phía sau lưng như: Hơi gió ở phía sau...
“Với căn hướng nội” là: Không lưu ý đến bên ngoài, chỉ lưu ý đến những gì đang diễn tiến trong tâm.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức giấc.Và khi thức dậy, này Moggallāna, ngươi hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: “Ta sẽ trú với, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm một bên, lạc thụy miên”. Như vậy, này Moggallāna ngươi cần phải học tập.
Đoạn kinh văn này có thể hiểu như sau: Sau khi đã làm tất cả mọi biện pháp, nhưng vẫn không thể trừ diệt buồn ngủ, đó là do thân xác quá mệt mỏi, thân xác cần phải nghỉ ngơi (như đã giải ở trên), hành giả nên tạm nghỉ, trước khi ngủ vẫn ghi nhận đề mục đang tu tập như niệm ân đức Phật hay niệm hơi thở... và nhắc nhở tâm rằng “hãy nghỉ khoảng 3o phút, 40 phút, 50 phút hay 1 giờ ... rồi thức dậy”, tức là hành giả quy định thời gian ngủ, gọi là “tưởng thức giấc”.
Và khi thức giấc thì nhanh nhẹn làm những động tác để trừ diệt hôn thụy đang còn (như đã nói ở trên).
Bài kinh trên dạy chúng ta bài học: “Hãy làm mọi cách để khai thác tối đa nghị lực nhằm mục đích chống lại hôn thụy, vì hôn thụy có khả năng phá hoại nghị lực của tâm. Nhưng nếu làm mọi cách như đã trình bày, buồn ngủ vẫn xâm chiếm tâm, hành giả nên biết rằng “do thể xác quá mệt mỏi”, không nên “ép xác” nữa, hãy đi ngủ với tâm có chủ ý thức giấc.
Tức là, khi đi ngủ vẫn có ý niệm chống lại hôn thụy và khi thức dậy thì nhanh nhẹn hoạt động ngay để diệt trừ dư hưởng của hôn thụy sau giấc ngủ”

TÂM SỞ BẤT THIỆN VẤN ĐÁP
TK Chánh Minh

4 thg 1, 2015

73 Tuệ trí trong Đạo Vô Ngại Giải


TRÍ CÁC ĐỆ TỬ CÓ
1    Tuệ lắng nghe là trí biết về điều đã nghe (học hỏi)
2    Tuệ về chế ngự sau khi nghe (học hỏi) là trí về giới
3    Tuệ về định sau khi chế ngự là trí về tu tập định
4    Tuệ phân biệt rõ các điều kiện là trí biết về liên hệ nhân quả (hiện hữu) giữa các hiện tượng
5    Tuệ định rõ các hiện tượng quá khứ, hiện tại, tương lai sau khi diễn dịch là trí hiểu biết toàn diện
6    Tuệ quán sự biến đổi của các hiện tượng đang hiện khởi là trí quán sanh diệt
7    Tuệ quán sự diệt [của tâm] sau khi quán tưởng về đối tượng là trí quán thực tánh
8    Tuệ về biểu hiện hãi hùng là trí quán nguy hiểm
9    Tuệ muốn giải thoát, tư duy và điềm tĩnh, là trí bình thản trước các hành vi tạo quả
10    Tuệ trồi lên và quay đi từ bên ngoài là trí chuyển tánh
11    Tuệ trồi lên và quay đi từ [bên ngoài lẫn bên trong] là trí về đạo lộ
12    Tuệ về làm lắng dịu nỗ lực là trí về quả
13    Tuệ quán bất toàn bị cắt bỏ là trí về giải thoát
14    Tuệ quán thực tánh các hiện tượng đạt được lúc đó là trí duyệt xét
15    Tuệ xác định các giác quan là trí về khác biệt trong căn cứ vật thể
16    Tuệ xác định đối tượng bên ngoài là trí về khác biệt trong lãnh vực [căn cứ vật thể]
17    Tuệ xác định hành xử là trí về sự khác biệt trong hành xử
18    Tuệ xác định bốn cõi là trí về sự khác biệt trong cảnh giới
19    Tuệ xác định chín ý niệm là trí biết sự khác biệt giữa các ý niệm
20    Tuệ vốn là trí trực chứng là trí về điều được biết tới
21    Tuệ vốn là hiểu biết trọn vẹn là trí theo nghĩa thẩm định (tìm hiểu kỹ)
22    Từ bỏ là trí theo nghĩa dứt bỏ
23    Tuệ vốn là tu tập là trí theo nghĩa tác dụng duy nhất
24    Tuệ vốn là thực chứng là trí theo nghĩa thể nghiệm
25    Tuệ biết khác biệt về nghĩa là vô ngại giải về nghĩa
26    Tuệ biết khác biệt về ý niệm là vô ngại giải về ý niệm
27    Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là vô ngại giải về ngữ pháp
28    Tuệ biết khác biệt về biện tài là vô ngại giải về biện tài
29    Tuệ biết khác biệt về trú là trí về nghĩa của trú
30    Tuệ biết khác biệt về chứng đạt là trí về chứng đạt

2 thg 1, 2015

Kinh Rắn (Kinh Tập)


1. Ai nhiếp phục phẫn nộ
Ðang được dấy khởi lên,
Như dùng chất linh dược,
Ngăn độc rắn lan rộng
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
2. Ái cắt đứt tham dục,
Không còn chút dư tàn,
Như kẻ hái hoa sen
Sanh ra từ ao hồ.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.

1 thg 1, 2015

Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn

Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỷ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát.



1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
2) Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
3) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
4) Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn.
5) Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
6) Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?

Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được

Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.

IX. Sundarika (S.i,167)
1) Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.
2) Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
3) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: "Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?"
4) Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.
5) Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja liền tháo đồ trùm ở đầu.
6) Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: "Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu", nghĩ vậy, muốn trở lui.
7) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: "Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh".
8) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thọ sanh Tôn giả là gì?

Ý nghĩa chữ Bhikkhu (Tỳkhưu)

Danh tự này dùng chỉ cho những bậc xuất gia trong Phật giáo.
Ý nghĩa thông dụng của từ bhikkhu (khikkhu) là “người đi xin ăn”.
Lần trở về kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) để tế độ quyến thuộc, Đức Phật có nói với vua Suddhodana (Tịnh Phạn) rằng:
“Anekāni hi buddhasahassāni piṇṇāya caritvāva jīviṃsū’ti.

- “Hằng ngàn chư Phật quá khứ vẫn đi khất thực nuôi mạng sống” [44] .
Theo chú giải kinh Tứ Niệm Xứ thì:
Bhikkhati sīlenā’ti bhikkhu:
“ Là người có giới hạnh đi xin ăn, gọi là Tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa “người đi xin ăn”. Và đây là hình thức của bậc xuất gia trong Phật giáo.
Ngoài ra thì:
Bhikkhu = căn bhī + căn ikkh + u.
“Thấy sợ hãi, là bhikkhu (Tỳkhưu)”.
Ngài Buddhagosa (Giác Âm) có giải thích:
Saṃsāre bhayaṃ ikkhatī’ti bhikkhu [45]
“Bậc thấy sợ hãi trong luân hồi, gọi là Tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa của “kinh sợ hiễm họa phiền não ma (Bố ma)”.
Hay: Bhikkhu = Căn bhidi [46] + căn ikkh +u.
“Thấy (rồi) phá vỡ, là bhikkhu (Tỳkhưu)”. Có thể hiểu theo hai cách: “Vị thấy rõ các phiền não rồi hủy diệt các phiền não ấy, vị ấy gọi là Tỳkhưu”, hay “hủy diệt quan kiến sai lầm, gọi là Tỳkhưu”.
Quan kiến sai lầm ở đây là thấy “ta” và “của ta”. Trong kinh điển Đức Phật thường khuyến cáo các môn đệ “hãy lìa bỏ cái ta và cái của ta”, vì đó là chướng ngại (palibodha) trước tiên cho sự chứng đắc Thánh quả.
- Bhinna kilesa = bhikkhu:
Đã loại trừ phiền não, là tỳkhưu” [47] .
Rõ ràng hơn là:“Sattannaṃ dhammānaṃ bhinnattā bhikkhu [48] .
“Trừ diệt bảy pháp (đưa đến luân hồi), gọi là tỳkhưu”.
Bảy pháp đó là gì?
Đó là: Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa), luyến ái (rāga), sân (dosa), mạn (māna).
“Paṭipannako hī devo vā hotu manusso vā bhikkhu’ti saṅkhayaṃ gacchatiyeva”.
“Người thực hành đi đến phá hủy (tội lỗi), dù là người hay chư Thiên, đều được xem là tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa của phá ác.
Như vậy, bhikkhu (tỳkhưu) có ba nghĩa:
- Kẻ đi xin ăn.
- Kẻ kinh sợ phiền não luân hồi.
- Kẻ hủy diệt điều xấu xa, tội lỗi.
Điều 1 là hình thức tỳkhưu, hai điều sau là “tâm lý tỳkhưu”.

XUẤT LY ĐỘ
TK Chánh Minh

28 thg 12, 2014

Nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng

Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!

II. Phỉ Báng (S.i,161)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
3) Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
4) Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
5) -- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
6) -- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
7) -- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
8) -- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
9) -- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
10) -- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!

22 thg 12, 2014

Ta nói cho Ðại vương biết, Ta cáo cho Ðại vương hay. Thưa Ðại vương, già và chết đang tiến đến chinh phục Ðại vương

7) -- Thưa Ðại vương, Ta nói cho Ðại vương biết, Ta cáo cho Ðại vương hay. Thưa Ðại vương, già và chết đang tiến đến chinh phục Ðại vương. Khi Ðại vương bị già chết chinh phục, Ðại vương có thể làm được gì?.
8) -- Bạch Thế Tôn, khi con bị già và chết chinh phục, thời con có thể làm được gì, ngoại trừ sống đúng pháp, sống chơn chánh, làm các hạnh lành, làm các công đức!


V. Ví Dụ Hòn Núi (S.i,100)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Thưa Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu lại?
3) -- Bạch Thế Tôn, con rất là bận rộn với những sự việc các vua chúa bận rộn. Các vua chúa Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, say đắm kiêu hãnh với vương quyền, thọ hưởng tham lam vật dục, đạt được sự an toàn quốc độ, và sống chinh phục cả vùng đất đai rộng lớn.
4) -- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, nếu có người đến với Ðại vương từ phương Ðông, một người thân tín, đáng tin cậy. Người ấy đến Ðại vương và thưa: "Tâu Ðại vương, mong Ðại vương được biết, con từ phương Ðông lại và có thấy tại đấy một ngọn núi cao như hư không, đang di chuyển và chà đạp, đè bẹp tất cả loại hữu tình. Tâu Ðại vương, Ðại vương hãy làm những gì cần phải làm".

Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết

Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.

II. Tổ Mẫu (S.i,96)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
-- Ðại vương đi từ đâu lại, giữa trưa như thế này?
3) -- Bạch Thế Tôn, tổ mẫu của con mệnh chung, già nua, tuổi tác, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đạt đến tuổi thọ, đã mệnh chung, được một trăm hai mươi tuổi.
4) Bạch Thế Tôn, con rất ái luyến và quý mến tổ mẫu. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một voi báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho voi báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một ngựa báu, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho ngựa báu để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con được cho một thôn làng tốt đẹp, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho thôn làng tốt đẹp để tổ mẫu con khỏi chết. Bạch Thế Tôn, nếu con có thể được cho một quốc độ, hay để tổ mẫu con khỏi chết, con sẽ cho quốc độ để tổ mẫu con khỏi chết.
5) -- Tất cả chúng sanh, thưa Ðại vương, đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
6) -- Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã khéo nói: "Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết."
7) -- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Ðại vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.
8)

Mọi chúng sanh sẽ chết,
Mạng sống, chết kết thúc,
Tùy nghiệp, họ sẽ đi,
Nhận lãnh quả thiện ác,
Ác nghiệp, đọa địa ngục,
Thiện nghiệp, lên Thiên giới.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người.


(Kinh Tương Ưng, Tập 1, Chương III, Phẩm Thứ Ba , II. Tổ Mẫu)

18 thg 12, 2014

Chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người


  • Thưa Ðại vương, chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
  • Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
  • Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
  • Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

Có Bấy Nhiêu Đó Thôi (Sách Audio)

"Cuộc đời và thân giáo của Hoà Thượng Thiền Sư Kim Triệu Khippapanno" 
HT TS Kim Triệu
HT TS Kim Triệu





14 thg 12, 2014

Như kiếm đã chạm da, Như lửa cháy trên đầu

1) Ðứng một bên, Thiên tử Sudatta nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ ái dục.

2) (Thế Tôn):

Như kiếm đã chạm da,
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ thân kiến.

(Kinh Tương Ưng, Tập 1, Chương I, Phẩm Cấp Cô Độc , VI. Sudatta (Tu-đạt-đa)

Ðúng thời họ sẽ đi, Thoát khỏi tay tử thần

Những ai Thiền tu học.
Trong pháp cú Ta dạy,
Tinh cần, không phóng dật,
Ðúng thời họ sẽ đi,
Thoát khỏi tay tử thần.

1) Ðứng một bên, Thiên tử Vendu nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

2)
Hạnh phúc thay những người, 
Sau khi hầu Thiện Thệ,
Tuân phụng lời Ngài dạy,
Tu học không phóng dật!

3) Thế Tôn nói:

Vendu! 
Những ai Thiền tu học.
Trong pháp cú Ta dạy,
Tinh cần, không phóng dật,
Ðúng thời họ sẽ đi,
Thoát khỏi tay tử thần.

(Kinh Tương Ưng, Tập 1, Chương I, Phẩm Cấp Cô Độc , II. Vendu)