25 thg 1, 2015

102 Quả Báu Của Ngũ Giới


Tai hại của người không có giới:
─   Này chư Tỳ khưu, 5 điều tai hại của người không có giới, người phạm giới. 5 điều ấy như thế nào?
─   Này chư Tỳ khưu, 5 điều tai hại của người không có giới, người phạm giới. 5 điều tai hại ấy là:
1-   Này chư Tỳ khưu, trong đời này, người không có giới, người phạm giới làm tiêu tan nhiều của cải to lớn vì nhân dể duôi.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là tai hại thứ nhất của người không có giới, người phạm giới.
2-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người không có giới, người phạm giới có tiếng xấu lan truyền khắp mọi nơi.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là tai hại thứ nhì của người không có giới, người phạm giới.
3-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người không có giới, người phạm giới có tâm sợ sệt, rụt rè e thẹn khi đi vào nơi hội đoàn Hoàng gia, hội đoàn gia chủ, hội đoàn Samôn, hội đoàn Bàlamôn.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là tai hại thứ ba của người không có giới, người phạm giới.
4-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người không có giới, người phạm giới phát sinh tâm mê muội lúc lâm chung.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là tai hại thứ tư của người không có giới, người phạm giới.
5-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người không có giới, người phạm giới, sau khi chết, ác nghiệp không giữ giới cho quả tái sinh trong cõi địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là tai hại thứ năm của người không có giới, người phạm giới.
─   Này chư Tỳ khưu, đó là 5 điều tai hại của người không có giới, người phạm giới như vậy.

Quả báu của người có giới:
─  Này chư Tỳ khưu, 5 quả báu của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn. 5 quả báu ấy như thế nào?
─  Này chư Tỳ khưu, 5 quả báu của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn. 5 quả báu ấy là:
1-   Này chư Tỳ khưu, trong đời này, người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn có được nhiều của cải lớn lao, do nhờ nhân không dể duôi.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là quả báu thứ nhất của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn.
2-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới đầy đủ trong sạch trọn vẹn có được danh thơm tiếng tốt lan truyền khắp mọi nơi.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là quả báu thứ nhì của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn.
3-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn có tâm dũng cảm, không rụt rè e thẹn khi đi vào nơi hội đoàn Hoàng gia, hội đoàn gia chủ, hội đoàn Samôn, hội đoàn Bàlamôn.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là quả báu thứ ba của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn.
4-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn phát sinh tâm không mê muội, tâm trí sáng suốt lúc lâm chung.
-   Này chư Tỳ khưu, đó là quả báu thứ tư của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn.
5-   Này chư Tỳ khưu, còn điều này, người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn, sau khi chết, thiện nghiệp giữ giới cho quả tái sinh cõi thiện dục giới: Cõi người, các cõi trời dục giới,…
-   Này chư Tỳ khưu, đó là quả báu thứ năm của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn.
─   Này chư Tỳ khưu, đó là 5 quả báu của người có giới, người giữ gìn giới trong sạch đầy đủ trọn vẹn như vậy.

Quả Nghiệp Của Mỗi Giới
23 quả xấu của ác nghiệp sát sinh từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Có thân hình tật nguyền.
2-   Có thân hình không cân đối, xấu xí.
3-   Là người chậm chạp.
4-   Có lòng bàn tay, và dưới lòng bàn chân lõm sâu (không đều đặn).
5-   Có thân hình xấu xí, đầy sẹo.
6-   Có sắc diện tối tăm.
7-   Có da thịt sần sùi.
8-   Có tính hay sợ hãi.
9-   Có sức khỏe yếu đuối.
10-   Có lời nói lặp đi lặp lại, không suôn sẻ.
11-   Bị mọi người ghét bỏ.
12-   Có những bộ hạ tùy tùng bị chia rẽ.
13-   Có tính hay giật mình, hoảng sợ.
14-   Thường bị tai nạn do khí giới, thuốc độc…
15-   Là người si mê, ngu dốt.
16-   Có rất ít bạn bè.
17-   Có thân hình dị hợm, đáng ghê sợ.
18-   Có thân hình kỳ dị.
19-   Hay bệnh hoạn ốm đau.
20-   Thường sầu não, lo sợ.
21-   Con cháu thường xa lánh.
22-   Mỗi kiếp thường bị chết yểu.
23-   Bị chết do người khác giết.
Đó là 23 quả xấu của ác nghiệp sát sinh từ trong kiếp quá khứ.

23 quả báu của thiện nghiệp không sát sinh từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Có thân hình không tật nguyền, đầy đủ các bộ phận lớn nhỏ trong cơ thể.
2-   Có thân hình cân đối xinh đẹp.
3-   Là người nhanh nhẹn.
4-   Có lòng bàn tay, lòng bàn chân đầy đặn.
5-   Có thân hình xinh đẹp, không tỳ vết.
6-   Có da thịt mềm mại, hồng hào.
7-   Có thân hình sạch sẽ, trong sáng.
8-   Có tâm dũng cảm, không sợ hãi.
9-   Có sức khỏe dồi dào.
10-   Có giọng nói thanh tao, lời nói ngọt ngào, suôn sẻ.
11-   Được mọi người quý mến.
12-   Có bộ hạ tùy tùng, bạn bè đoàn kết gắn bó thương yêu nhau.
13-   Thân tâm được an lạc tự tại, không hoảng sợ.
14-   Không bị tai nạn do khí giới, thuốc độc….
15-   Có trí tuệ sáng suốt.
16-   Có nhiều bạn bè thân thiết.
17-   Có thân hình đẹp đẽ, đáng quý mến.
18-   Có các bộ phận lớn nhỏ trong thân thể cân đối đẹp đẽ.
19-   Là người ít bệnh hoạn ốm đau.
20-   Là người có tâm thường an lạc.
21-   Là người thường được sống gần gũi với con cháu yêu quý.
22-   Là người được trường thọ, sống lâu.
23-   Không có một ai có thể mưu sát được.
Đó là 23 quả báu tốt của thiện nghiệp không sát sinh từ trong kiếp quá khứ.

11 quả xấu của ác nghiệp trộm cắp từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Không thể có những thứ của cải quý giá.
2-   Thiếu thốn những nhu yếu phẩm như lúa gạo, tiền bạc, đồ dùng, v.v…
3-   Là người nghèo khổ túng thiếu của cải.
4-   Không phát triển được những thứ của cải mới.
5-   Khi làm ra được của cải quý giá, thì không giữ gìn được lâu dài.
6-   Không thể có được thứ của cải mà mình mong muốn.
7-   Khi có được của cải, thì thường bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, do nước lũ cuốn trôi, do kẻ trộm cướp chiếm đoạt, do nhà Vua tịch thu...
8-   Của cải được phát triển, thì cũng liên quan đến nhiều người, không riêng cho mình được.
9-   Là người không thể nào chứng đắc được pháp Siêu tam giới (4 Thánh Đạo + 4 Thánh Quả và Niết Bàn).
10-   Là người thường nghe đến danh từ ‘không có’.
11-   Là người sống không được an lạc.
Đó là 11 quả xấu của ác nghiệp trộm cắp từ trong kiếp quá khứ.

 11 quả báu của thiện nghiệp không trộm cắp từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người có nhiều của cải quý giá, giàu sang.
2-   Có đầy đủ của cải, tài sản như lúa gạo, vàng bạc, châu báu,...
3-   Là người có nhiều của cải, tài sản lớn lao, giàu sang phú quý, tiêu dùng không sao hết được.
4-   Của cải nào chưa phát sinh, thì của cải ấy sẽ được phát sinh và càng phát triển nhiều.
5-   Những thứ của cải quý giá nào như vàng bạc, ngọc ngà, châu báu,… đã có rồi, thì những thứ của cải quý giá ấy được giữ gìn duy trì bền vững lâu dài.
6-   Mong muốn những thứ của cải quý giá nào, thì chắc chắn mau chóng thành tựu như ý.
7-   Những thứ của cải, tài sản lớn lao của người ấy, không bị thiệt hại do lửa thiêu cháy, do nước lũ cuốn trôi, do kẻ trộm cướp chiếm đoạt, do nhà Vua tịch thu, do người không ưa thích đoạt lấy…
8-   Của cải được phát triển, không liên quan đến người khác, chính mình sở hữu.
9-   Là người có thể chứng đắc được pháp Siêu tam giới (4 Thánh Đạo + 4 Thánh Quả và Niết Bàn).
10-   Là người không thường nghe đến danh từ ‘không có’, bởi vì muốn thứ nào, thì có ngay thứ ấy.
11-   Là người sống được an lạc.
Đó là 11 quả báu tốt của thiện nghiệp không trộm cắp từ trong kiếp quá khứ.

20 quả xấu của ác nghiệp tà dâm từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người có nhiều người oan trái.
2-   Là người có nhiều người thù ghét.
3-   Là người nghèo khổ, thiếu thốn.
4-   Là người ngủ không được an lạc.
5-   Là người thức không được an lạc.
6-   Là người không tránh khỏi 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh).
7-   Là người ái nam, ái nữ (không phải đàn ông, cũng không phải đàn bà).
8-   Là người có tính hay nóng giận.
9-   Là người sinh vào dòng họ thấp hèn, hạng người thấp hèn.
10-   Là người có tính không minh bạch, hay che giấu tội lỗi.
11-   Là người có thân hình tật nguyền, xấu xí.
12-   Là người có sắc diện mặt mày sầu não, khổ tâm.
13-   Là người bị mọi người coi thường khinh bỉ, không tin tưởng.
14-   Là người khuyết tật: Đui mù, câm điếc,...
15-   Sinh làm người đàn bà (tiền kiếp là người đàn ông).
16-   Là người có nhiều chứng bệnh đáng ghê sợ.
17-   Là người không biết đủ, sống khổ cực.
18-   Là người sống nơi nào cũng không được an lạc.
19-   Là người gặp nhiều tai hại, oan trái với mọi người.
20-   Là người sống xa người thân yêu, hay bị ruồng bỏ.
Đó là 20 quả xấu của ác nghiệp tà dâm từ kiếp quá khứ.

20 quả báu tốt của thiện nghiệp không tà dâm từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người không có người oan trái.
2-   Là người được mọi người thương yêu quý mến.
3-   Là người có nhiều của cải giàu sang phú quý.
4-   Là người ngủ được an lạc.
5-   Là người thức được an lạc.
6-   Là người có thể tránh được 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh).
7-   Sinh làm người đàn ông hoàn toàn 100%.
8-   Là người có tính ôn hòa, ít nóng giận.
9-   Là người sinh ra trong dòng họ cao quý, có tính khiêm nhường.
10-   Là người có tính minh bạch rõ ràng, không che giấu tội lỗi.
11-   Là người không có tật nguyền, có thân hình xinh đẹp, đáng ngưỡng mộ.
12-   Là người có sắc diện trong sáng.
13-   Là người được mọi người tin tưởng.
14-   Là người có ngũ quan (5 giác quan của con người) đầy đủ và tốt đẹp.
15-   Là người có tư cách đáng kính.
16-   Là người không có những chứng bệnh đáng ghê sợ.
17-   Là người có trí tuệ, đời sống được an lạc.
18-   Là người sống nơi nào cũng được an lạc.
19-   Là người không có tai hại, không có người gây oan trái.
20-   Là người thường được sống gần gũi với người thân yêu.
Đó là 20 quả báu tốt của thiện nghiệp không tà dâm từ kiếp quá khứ.

14 quả xấu của ác nghiệp nói dối từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người có ngũ quan (5 giác quan của con người) không trong sáng.
2-   Là người có giọng nói không rõ, khó nghe.
3-   Là người có đôi hàm răng không đều đặn, xấu xí.
4-   Là người có thân hình quá mập, dị kỳ.
5-   Là người có thân hình quá ốm, tong teo.
6-   Là người có thân hình quá thấp, lùn tịt.
7-   Là người có thân hình quá cao, lêu nghêu.
8-   Là người có da thịt sần sùi, xấu xí.
9-   Là người mà trong miệng thường thoát ra mùi hôi khó chịu.
10-   Là người nói không ai tin theo.
11-   Là người nói không ai muốn nghe.
12-   Là người có cái lưỡi cứng và ngắn.
13-   Là người có tâm thường thoái chí nản lòng.
14-   Là người có tật nói cà lăm, hoặc bị câm điếc.
Đó là 14 quả xấu của ác nghiệp nói dối từ trong kiếp quá khứ.

14 quả báu tốt của thiện nghiệp không nói dối từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người có ngũ quan (5 giác quan của con người) trong sáng.
2-   Là người có giọng nói ngọt ngào, dễ nghe.
3-   Là người có đôi hàm răng đều đặn, đẹp đẽ.
4-   Là người có thân hình không mập quá.
5-   Là người có thân hình không ốm quá.
6-   Là người có thân hình không thấp quá.
7-   Là người có thân hình không cao quá.
8-   Là người có da thịt mịn màng, mềm mại.
9-   Là người mà trong miệng có mùi thơm tho thoát ra dễ chịu như mùi hoa sen.
10-   Là người nói được nhiều người tin theo, không có ai ganh tỵ.
11-   Là người nói được nhiều người muốn nghe.
12-   Là người có cái lưỡi mềm mỏng, màu hồng như cánh hoa sen đỏ.
13-   Là người có định tâm vững vàng.
14-   Là người có lời nói rõ ràng, ý nghĩa sâu sắc, được nhiều người tin tưởng và tôn trọng.
Đó là 14 quả báu tốt của thiện nghiệp không nói dối từ kiếp quá khứ.

 30 quả xấu của ác nghiệp do uống rượu và các chất say từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người không biết những công việc đã làm, đang làm và sẽ làm.
2-   Là người thường không có trí nhớ, hay quên mình.
3-   Là người loạn trí, điên cuồng.
4-   Là người không có trí tuệ.
5-   Là người có tính lười biếng trong công việc.
6-   Là người thường hay buồn ngủ.
7-   Là người bị câm điếc từ khi đầu thai.
8-   Là người si mê, ngu dốt.
9-   Là người khó nhớ, dễ quên.
10-   Là người có sự hiểu biết kém cỏi, dốt nát.
11-   Là người có thân hình nặng nề chậm chạp.
12-   Là người thường bị tai nạn.
13-   Là người sầu não, khổ tâm.
14-   Là người hay nói lảm nhảm.
15-   Là người hay nói lời chia rẽ, nói lời thô tục, nói lời vô ích.
16-   Là người có tính biếng nhác ngày đêm trong công việc nặng, nhẹ.
17-   Là người không biết ơn và không biết đền ơn đối với người ân nhân của mình.
18-   Là người không biết công việc đã làm xong.
19-   Là người keo kiệt, bủn xỉn.
20-   Là người không thích làm phước thiện bố thí đến cho người khác.
21-   Là người không có giới, hoặc phạm điều giới.
22-   Là người không chân thật, không ngay thẳng.
23-   Là người hay sinh tâm sân hận.
24-   Là người không biết hổ thẹn tội lỗi, khi làm ác.
25-   Là người không biết ghê sợ tội lỗi, khi làm ác.
26-   Là người có tà kiến hiểu lầm, chấp lầm trong mọi đối tượng.
27-   Là người dám tạo mọi tội ác.
28-   Là người không có trí tuệ, không hiểu rõ chân lý.
29-   Là người không thể phát sinh trí tuệ.
30-   Là người không biết phân biệt được sự lợi, sự hại, điều chánh, lẽ tà.
Đó là 30 quả xấu của ác nghiệp do uống rượu và các chất say từ kiếp quá khứ.

30 quả báu tốt của thiện nghiệp do không uống rượu và các chất say từ kiếp quá khứ như sau:
1-   Là người có trí tuệ sáng suốt, hiểu biết mau lẹ những công việc đã làm, đang làm và sẽ làm.
2-   Là người thường có trí nhớ.
3-   Là người không loạn trí, điên cuồng.
4-   Là người có trí tuệ, thông minh, nhạy bén.
5-   Là người có sự tinh tấn không ngừng.
6-   Là hạng người có tam nhân (vô tham, vô sân, vô si) từ khi đầu thai.
7-   Là người không bị câm điếc,… từ khi đầu thai.
8-   Là người có trí tuệ sáng suốt, không mê muội.
9-   Là hạng người không dể duôi trong mọi thiện pháp.
10-   Là hạng người đa văn túc trí, học nhiều hiểu rộng.
11-   Là người có thân hình đầy đủ, cân đối các bộ phận lớn nhỏ xinh đẹp.
12-   Là người ít gặp tai nạn.
13-   Là người ít có sầu não, khổ tâm.
14-   Là người thường nói lời chân thật, đáng tin.
15-   Là người không nói lời chia rẽ, không nói lời thô tục, không nói lời vô ích.
16-   Là người có sự tinh tấn không ngừng ngày đêm trong mọi công việc thiện.
17-   Là người có lòng biết ơn và biết đền ơn đối với người ân nhân của mình.
18-   Là người hiểu biết những công việc đã làm.
19-   Là người không có tính keo kiệt, bủn xỉn của cải của mình.
20-   Là người có tâm hoan hỷ trong việc làm phước bố thí của cải đến cho người khác.
21-   Là người có giới đầy đủ và trọn vẹn.
22-   Là người trung thực với mình và mọi người.
23-   Là người ít sinh tâm sân hận .
24-   Là người biết hổ thẹn tội lỗi, không dám làm điều ác.
25-   Là người biết ghê sợ tội lỗi, không dám làm điều ác.
26-   Là người có chánh kiến thấy đúng, có khả năng thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp.
27-   Là người có nhiều phước thiện cao thượng.
28-   Là người có nhiều trí tuệ, hiểu biết các pháp.
29-   Là bậc thiện trí hiểu biết phân biệt được điều lợi, điều hại, điều chánh, lẽ tà,….
30-   Là bậc thiện trí biết sự lợi ích kiếp hiện tại, sự lợi ích kiếp vị lai, sự lợi ích Tối Thượng Niết Bàn.
Đó là 30 quả báu tốt của thiện nghiệp do không uống rượu và các chất say từ kiếp quá khứ.



Nền Tảng Phật Giáo - Quyển III:
Hành Giới
Soạn giả: Tỳ khưu Hộ Pháp

18 thg 1, 2015

10 loại gai

1- Với người ưa thích viễn ly, thân cận hội chúng là cây gai
. 2- Với người tu tập tướng không trong sạch, thích thú tướng trong sạch là cây gai.
3- Với người gìn giữ các cửa, đi xem ca múa, nhạc kịch  là cây gai.
4- Với người sống Phạm hạnh, thân cận nữ nhân là cây gai.
5- Với người chứng Sơ thiền, tiếng ồn là cây gai.
6- Với người chứng Nhị thiền, tầm - tứ (vitakkavicāra) là cây gai.
7- Với người chứng Tam thiền, hỷ (pīti) là cây gai.
8- Với người chứng Tứ thiền, hơi thở vô hơi thở ra là cây gai.
9- Với người chứng Diệt thọ tưởng định, thọ-tưởng là cây gai.
10- Tham, sân, si là cây gai

Đức Phật Và 45 Năm Hoàng Pháp Độ Sinh(Tập 6)

Tk Chánh Minh

Đi xuống hồ nước và ngửi bông sen hồng

1) Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
2) Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy ăn xong, trên con đường đi khất thực trở về, đi xuống hồ nước và ngửi bông sen hồng.
3) Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo.
4) Sau khi đến, vị Thiên ấy liền nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo:
Hoa này từ nước sanh,
Không cho, Ông ngửi trộm.
Như vậy một loại trộm,
Ta gọi Ông trộm hương,
Này thân hữu của ta.

5) (Vị Tỷ-kheo):
Không lấy đi, không bẻ,
Ðứng xa, ta ngửi hoa,
Vậy do hình tướng gì,
Ðược gọi là "trộm hương"?
Ai đào rễ củ sen,
Ăn dùng các loại sen.
Do các hành động ấy,
Sao không gọi trộm hương?

6) (Vị Thiên):
Người ty tiện độc ác,
Như vải nhớp vú em,
Với hạng người như vậy,
Lời ta không liên hệ.
Nhưng chính thật cho Ông,
Chính lời ta tương ưng
Với người không cấu uế,
Thường hướng cầu thanh tịnh.
Với kẻ ác nhìn thấy,
Nhỏ như đầu sợi lông,
Vị ấy xem thật lớn,
Như đầu mây trên trời.

7) (Vị Tỷ-kheo):
Thật sự này Dạ-xoa,
Ông biết ta, thương ta,
Hãy nói lại với ta,
Khi thấy ta như vậy.

8) (Vị Thiên):
Ta không tùy thuộc Ông,
Ông cũng không làm bậy,
Này Tỷ-kheo nên biết,
Ông có thể sanh Thiên.

9) Vị Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.


(Kinh Tương Tưng Bộ, Thiên 1; Chương IX, XIV. Sen Hồng hay Sen Trắng 

14 thg 1, 2015

Như kẻ đọa địa ngục, Thèm muốn sanh thiên giới

IX. Vajjiputta: Bạt-kỳ Tử hay Tỳ-xá-lỵ (S.i,201)
1) Một thời, một Tỷ-kheo Vajjiputtaka trú ở Vesàli tại một khu rừng.
2) Lúc bấy giờ một cuộc lễ được tổ chức suốt đêm ở Vesàli.
3) Tỷ-kheo ấy được nghe tiếng nhạc khí, tiếng cồng v.v... đánh lên, tiếng ồn ào khởi lên, liền than thở, nói lên ngay lúc ấy những bài kệ này:
Chúng ta sống một mình,
Trong khu rừng cô độc,
Như khúc gỗ lột vỏ,
Lăn lóc trong rừng sâu,
Trong đêm tối hân hoan,
Như hiện tại đêm nay,
Ai sống đời bất hạnh,
Như chúng ta hiện sống?

4) Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, có lòng thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ:
5)
Ông sống chỉ một mình,
Trong khu rừng cô độc,
Như khúc gỗ lột vỏ,
Lăn lóc trong rừng sâu.
Rất nhiều người thèm muốn,
Ðời sống như ông vậy,
Như kẻ đọa địa ngục,
Thèm muốn sanh thiên giới.


6) Rồi Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức xúc động.


(Kinh Tương Tưng Bộ, Thiên 1; Chương VIII, IX. Vajjiputta: Bạt-kỳ Tử hay Tỳ-xá-lY 

13 thg 1, 2015

Quá thiếu cương quyết như ngươi thì làm sao giữ được ngày trai giới

300. Chuyện Chó Sói (Tiền Thân Vaka)
Chó Sói nọ chuyên bắt sống thú ...,
Chuyện này do bậc Ðạo Sư kể tại KỳViên về tình bạn xưa cũ.
Các tình tiết giống như trong bộ Luật tạng (Vinaya Ðại phẩm) đây chỉ là phần trích.
Tôn giả Upasena bấy giờ tu được hai năm, dẫn theo một Tỷ-kheo cùng trong tinh xá, mới tu được một năm, đến tham bái bậc Ðạo Sư. Người ấy bị bậc Ðạo Sư quở trách rồi lui về. Sau đó, ông đạt Thiền quán đắc Thánh quả, với hạnh tri túc và các đức tính khác và đã thực hiện Mười ba pháp tu tập của một Sa-môn, ông dạy chúng cho các bằng hữu. Khi Thế Tôn an cư ba tháng, ông cùng các Tỷ-kheo đồng trú bị đức Phật quở trách trước tiên vì nói sai và làm không đúng, nhưng lần sau được bậc Ðạo Sư khen với những lời này:
- Từ nay, hễ Tỷ-kheo nào muốn viếng thăm Ta thì cứ để cho họ đến, miễn là họ thực hiện Mười ba pháp tu tập của một Sa-môn.
Ðược khích lệ như vậy, ông trở về thuật chuyện cho các Tỷ-kheo ấy. Sau đó, các Tỷ-kheo ấy đều theo đúng các hạnh nguyện trước khi đến tham bái bậc Ðạo Sư.
Thế rồi khi bậc Ðạo Sư hết thời kỳ an cư, các Tỷ-kheo liền vứt bỏ các quần áo rách cũ và mặc y phục sạch sẽ. Khi bậc Ðạo Sư cùng tất cả hội chúng Tỷ-kheo đi quanh các phòng để xem xét, Ngài chú ý tới đồ rách rưới kia đang rải rác đây đó, liền hỏi tại sao. Nghe họ kể lại, Ngài dạy:
- Này các Tỷ-kheo, việc hành trì của các vị ấy chẳng được lâu dài, cũng giống như việc con chó Sói giữ ngày trai giới.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.

Hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình

- Này hiền giả, vị Tỳkhưu lúc nào cũng quét dọn là điều không hợp lẽ. Tỳkhưu chỉ nên quét dọn vào buổi sáng, rồi đi khất thực, khi về đến Tự viện, ngồi vào chỗ ngồi ban ngày hay ban đêm, đưa tâm quán xét về thể trược, để thấy được sự sinh diệt của “năm nhóm”, hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình, đừng lãng phí thời gian quét dọn như thế.

Lối sống an tịnh viễn ly của Đức Revata làm cho Trưởng lão Sammajjana (còn viết là
Sammuñjanī) hiểu lầm là “Ngài Revata biếng nhác”.

Trưởng lão có tên là Sammajjana vì lúc nào Ngài cũng quét dọn, một hôm thấy Tôn giả Revata ngồi yên lặng nơi chỗ ngồi ban ngày, nên nói rằng:

- Vị trưởng lão này lười nhác quá, dùng vật thực tín thí xong rồi, đi đến đây ngồi yên, cầm chỗi quét dọn cũng không làm.

Đức Revata suy nghĩ: “Ta nên giáo giới Tỳkhưu này”, Ngài bảo rằng:

- Này hiền giả, hiền giả đi tắm rữa xong rồi đến đây.

Trưởng lão Sammajjana đi tắm rữa xong, đến viếng Ngài Revata. Ngài Revata giáo giới Trưởng lão Sammajjana rằng:

- Này hiền giả, vị Tỳkhưu lúc nào cũng quét dọn là điều không hợp lẽ. Tỳkhưu chỉ nên quét dọn vào buổi sáng, rồi đi khất thực, khi về đến Tự viện, ngồi vào chỗ ngồi ban ngày hay ban đêm, đưa tâm quán xét về thể trược, để thấy được sự sinh diệt của “năm nhóm”, hãy dành thời gian tạo lợi ích cho mình, đừng lãng phí thời gian quét dọn như thế.

 Nghe lời giáo giới của Đức Revata, Trưởng lão Sammajjana nỗ lực hành pháp, chẳng bao lâu chứng Thánh quả Alahán.

Từ khi ấy, trong Tự viện có nhiều chỗ rác ứ động, các Tỳkhưu nói với Trưởng lão Sammajjana rằng:

- Này hiền giả Sammajjana, trong Tự viện có nhiều chỗ rác ứ động, vì sao hiền giả không quét dọn?

- Thưa chư hiền, trước đây tôi dễ duôi phóng dật quét rác, giờ đây tôi không còn dễ duôi quét rác nữa.

Các Tỳkhưu mang việc này trình lên Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Này các Tỳkhưu, thật vậy con Như Lai giờ đây không còn dễ duôi quét dọn nữa, con Như Lai sống an tịnh phát sinh từ Đạo quả.

Rồi Đức Thế Tôn thuyết lên kệ ngôn:

Yo ca pubbe pamajjitvā, pacchā so nappamajjati;
Somaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttova candimā’ti.

“Ai trước sống buông lung; sau sống không phóng dật.
Chói sáng rực đời này; như trăng thoát mây che” (HT. TMC dịch)(2)

.

Đức Phật Và 45 Năm Hoàng Pháp Độ Sinh(Tập 6)
Tk Chánh Minh

9 thg 1, 2015

Nhiều lần và nhiều lần

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya.
3) Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
4) Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya...
5) Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế Tôn và nói với Thế Tôn:
- Tham lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần!
(Thế Tôn):
Nhiều lần và nhiều lần,
Chúng gieo vãi hạt giống.
Nhiều lần và nhiều lần,
Trời mưa đi, mưa lại.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người nông phu cày ruộng.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lúa gạo đến quốc độ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Hành khất lại xin ăn.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ lại bố thí.
Nhiều lần và nhiều lần,
Thí chủ sau khi cho.
Nhiều lần và nhiều lần,
Ðược đi đến thiên giới.
Nhiều lần và nhiều lần,
Người làm sữa vắt sữa,
Nhiều lần và nhiều lần,
Bò con tìm bò mẹ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Mệt sức và lao khổ.
Nhiều lần và nhiều lần,
Kẻ ngu nhập bào thai.
Nhiều lần và nhiều lần,
Lại sanh rồi lại chết.
Nhiều lần và nhiều lần,
Họ mang đến nghĩa địa.
Họ được đường giải thoát,
Không đưa đến tái sanh.
Bậc đại trí, đại tuệ,
Không sanh đi, sanh lại.
7) Khi được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

(Kinh Tương Tưng Bộ, Thiên 1; Chương VII, Phẩm Cư Sĩ, II. Udaya

5 thg 1, 2015

Khi hôn trầm thụy miên sinh khởi, phải trừ diệt ra sao?

Đáp:
Trong kinh có ghi nhận: Khi Đức Moggallāna xuất gia trong giáo pháp này, Ngài tinh cần hành đạo, nhưng bị phiền não là hôn trầm chiếm ngự tâm, khi hành thiền Ngài bị ngủ gục.
Với thiên nhãn, Đức Thế Tôn trông thấy Ngài Moggallāna (Mụckiềnliên) đang ngủ gục (pacalāyamāno) trong làng Kallavāḷamutta, Đức Thế Tôn dùng thần thông xuất hiện trước mặt Ngài Moggallāna và chỉ dạy phương pháp trừ diệt hôn trầm, có bảy cách như sau:[185]
- Này Moggallāna, khi nào ngươi trú có tưởng (saññissa) [186] và thụy miên xâm nhập ngươi,chớ có tác ý đến nó (mā manasikāra), chớ có tưởng nhiều đến nó (saññaṃ mā bahulaṃ akāsi).Sự kiện này có thể xảy ra, do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Đoạn kinh trên có nghĩa là: Khi nhận biết tâm đang bị thụy miên xâm nhập, hành giả đừng nghĩ đến việc ngủ, đừng suy nghĩ nhiều về “ngủ nghỉ”.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, với tâm của ngươi, hãy tùy tầm, tùy tứ, với ý hãy tùy quán pháp như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Sự kiện này có thể xảy ra, do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Tức là khi thấy thụy miên xâm nhập tâm, hãy quán xét pháp đã được nghe được học, để làm tăng trưởng sức mạnh của Tầm, Tứ. Khi Tầm, Tứ có sức mạnh thì hôn trầm , thụy miên bị đẩy lui.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy đọc tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã học thuộc lòng. Sự kiện này có thể xảy ra do ngươi trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
Tức là tụng kinh nhiều lên, do đó thụy miên có thể bị diệt trừ.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy kéo (āvijeyyāsi) hai lỗ tai và lấy tay xoa bóp chân của ngươi. Sự kiện này có thể xảy ra .....
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy từ chỗ ngồi đứng dậy,lấy nước rữa mắt (anumajjati), nhìn về phía chân trời, nhìn lên các vì sao nhấp nhánh (tārakarūpāni).Sự kiện này...
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy tác 1y đến quang tưởng....
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy trú tâm trên chỗ kinh hành (cankamam), với tưởng trước mặt, tưởng sau lưng (pacchāpuresaññī), với căn hướng nội, với ý không hướng ngoại. Sự kiện này...
Giải:
“Tưởng trước mặt và sau lưng” là lưu ý khoảng cách gần ở trước mặt hay những biến chuyển (do đi) ở gần phía sau lưng như: Hơi gió ở phía sau...
“Với căn hướng nội” là: Không lưu ý đến bên ngoài, chỉ lưu ý đến những gì đang diễn tiến trong tâm.
- Nếu trú như vậy và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallāna, ngươi hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức giấc.Và khi thức dậy, này Moggallāna, ngươi hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: “Ta sẽ trú với, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm một bên, lạc thụy miên”. Như vậy, này Moggallāna ngươi cần phải học tập.
Đoạn kinh văn này có thể hiểu như sau: Sau khi đã làm tất cả mọi biện pháp, nhưng vẫn không thể trừ diệt buồn ngủ, đó là do thân xác quá mệt mỏi, thân xác cần phải nghỉ ngơi (như đã giải ở trên), hành giả nên tạm nghỉ, trước khi ngủ vẫn ghi nhận đề mục đang tu tập như niệm ân đức Phật hay niệm hơi thở... và nhắc nhở tâm rằng “hãy nghỉ khoảng 3o phút, 40 phút, 50 phút hay 1 giờ ... rồi thức dậy”, tức là hành giả quy định thời gian ngủ, gọi là “tưởng thức giấc”.
Và khi thức giấc thì nhanh nhẹn làm những động tác để trừ diệt hôn thụy đang còn (như đã nói ở trên).
Bài kinh trên dạy chúng ta bài học: “Hãy làm mọi cách để khai thác tối đa nghị lực nhằm mục đích chống lại hôn thụy, vì hôn thụy có khả năng phá hoại nghị lực của tâm. Nhưng nếu làm mọi cách như đã trình bày, buồn ngủ vẫn xâm chiếm tâm, hành giả nên biết rằng “do thể xác quá mệt mỏi”, không nên “ép xác” nữa, hãy đi ngủ với tâm có chủ ý thức giấc.
Tức là, khi đi ngủ vẫn có ý niệm chống lại hôn thụy và khi thức dậy thì nhanh nhẹn hoạt động ngay để diệt trừ dư hưởng của hôn thụy sau giấc ngủ”

TÂM SỞ BẤT THIỆN VẤN ĐÁP
TK Chánh Minh

4 thg 1, 2015

73 Tuệ trí trong Đạo Vô Ngại Giải


TRÍ CÁC ĐỆ TỬ CÓ
1    Tuệ lắng nghe là trí biết về điều đã nghe (học hỏi)
2    Tuệ về chế ngự sau khi nghe (học hỏi) là trí về giới
3    Tuệ về định sau khi chế ngự là trí về tu tập định
4    Tuệ phân biệt rõ các điều kiện là trí biết về liên hệ nhân quả (hiện hữu) giữa các hiện tượng
5    Tuệ định rõ các hiện tượng quá khứ, hiện tại, tương lai sau khi diễn dịch là trí hiểu biết toàn diện
6    Tuệ quán sự biến đổi của các hiện tượng đang hiện khởi là trí quán sanh diệt
7    Tuệ quán sự diệt [của tâm] sau khi quán tưởng về đối tượng là trí quán thực tánh
8    Tuệ về biểu hiện hãi hùng là trí quán nguy hiểm
9    Tuệ muốn giải thoát, tư duy và điềm tĩnh, là trí bình thản trước các hành vi tạo quả
10    Tuệ trồi lên và quay đi từ bên ngoài là trí chuyển tánh
11    Tuệ trồi lên và quay đi từ [bên ngoài lẫn bên trong] là trí về đạo lộ
12    Tuệ về làm lắng dịu nỗ lực là trí về quả
13    Tuệ quán bất toàn bị cắt bỏ là trí về giải thoát
14    Tuệ quán thực tánh các hiện tượng đạt được lúc đó là trí duyệt xét
15    Tuệ xác định các giác quan là trí về khác biệt trong căn cứ vật thể
16    Tuệ xác định đối tượng bên ngoài là trí về khác biệt trong lãnh vực [căn cứ vật thể]
17    Tuệ xác định hành xử là trí về sự khác biệt trong hành xử
18    Tuệ xác định bốn cõi là trí về sự khác biệt trong cảnh giới
19    Tuệ xác định chín ý niệm là trí biết sự khác biệt giữa các ý niệm
20    Tuệ vốn là trí trực chứng là trí về điều được biết tới
21    Tuệ vốn là hiểu biết trọn vẹn là trí theo nghĩa thẩm định (tìm hiểu kỹ)
22    Từ bỏ là trí theo nghĩa dứt bỏ
23    Tuệ vốn là tu tập là trí theo nghĩa tác dụng duy nhất
24    Tuệ vốn là thực chứng là trí theo nghĩa thể nghiệm
25    Tuệ biết khác biệt về nghĩa là vô ngại giải về nghĩa
26    Tuệ biết khác biệt về ý niệm là vô ngại giải về ý niệm
27    Tuệ biết khác biệt về ngôn ngữ là vô ngại giải về ngữ pháp
28    Tuệ biết khác biệt về biện tài là vô ngại giải về biện tài
29    Tuệ biết khác biệt về trú là trí về nghĩa của trú
30    Tuệ biết khác biệt về chứng đạt là trí về chứng đạt

2 thg 1, 2015

Kinh Rắn (Kinh Tập)


1. Ai nhiếp phục phẫn nộ
Ðang được dấy khởi lên,
Như dùng chất linh dược,
Ngăn độc rắn lan rộng
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.
2. Ái cắt đứt tham dục,
Không còn chút dư tàn,
Như kẻ hái hoa sen
Sanh ra từ ao hồ.
Tỷ-kheo ấy từ bỏ,
Bờ này và bờ kia,
Như loài rắn thoát bỏ
Da rắn cũ già xưa.

1 thg 1, 2015

Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn

Lòng tin là hạt giống,
Khổ hạnh là mưa móc,
Trí tuệ đối với Ta,
Là cày và ách mang,
Tàm quý là cán cày,
Ý căn là dây cột,
Chánh niệm đối với Ta,
Là lưỡi cày, gậy đâm.
Thân hành được hộ trì,
Khẩu hành được hộ trì
Ðối với các món ăn,
Bụng Ta dùng vừa phải,
Ta nhổ lên tà vạy,
Với chơn lý sự thật,
Hoan hỷ trong Niết-bàn
Là giải thoát của Ta.
Tinh tấn đối với Ta,
Là khả năng mang ách,
Ðưa Ta tiến dần đến,
An ổn khỏi ách nạn,
Ði đến, không trở lui,
Chỗ Ta đi, không sầu.
Như vậy, cày ruộng này,
Ðưa đến quả bất tử,
Sau khi cày cày này,
Mọi đau khổ được thoát.



1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn, tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
2) Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
3) Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
4) Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ ăn.
5) Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một bên.
6) Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn?

Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được

Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.

IX. Sundarika (S.i,167)
1) Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.
2) Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
3) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: "Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?"
4) Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.
5) Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja liền tháo đồ trùm ở đầu.
6) Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: "Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu", nghĩ vậy, muốn trở lui.
7) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: "Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh".
8) Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
-- Thọ sanh Tôn giả là gì?

Ý nghĩa chữ Bhikkhu (Tỳkhưu)

Danh tự này dùng chỉ cho những bậc xuất gia trong Phật giáo.
Ý nghĩa thông dụng của từ bhikkhu (khikkhu) là “người đi xin ăn”.
Lần trở về kinh thành Kapilavatthu (Catỳlavệ) để tế độ quyến thuộc, Đức Phật có nói với vua Suddhodana (Tịnh Phạn) rằng:
“Anekāni hi buddhasahassāni piṇṇāya caritvāva jīviṃsū’ti.

- “Hằng ngàn chư Phật quá khứ vẫn đi khất thực nuôi mạng sống” [44] .
Theo chú giải kinh Tứ Niệm Xứ thì:
Bhikkhati sīlenā’ti bhikkhu:
“ Là người có giới hạnh đi xin ăn, gọi là Tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa “người đi xin ăn”. Và đây là hình thức của bậc xuất gia trong Phật giáo.
Ngoài ra thì:
Bhikkhu = căn bhī + căn ikkh + u.
“Thấy sợ hãi, là bhikkhu (Tỳkhưu)”.
Ngài Buddhagosa (Giác Âm) có giải thích:
Saṃsāre bhayaṃ ikkhatī’ti bhikkhu [45]
“Bậc thấy sợ hãi trong luân hồi, gọi là Tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa của “kinh sợ hiễm họa phiền não ma (Bố ma)”.
Hay: Bhikkhu = Căn bhidi [46] + căn ikkh +u.
“Thấy (rồi) phá vỡ, là bhikkhu (Tỳkhưu)”. Có thể hiểu theo hai cách: “Vị thấy rõ các phiền não rồi hủy diệt các phiền não ấy, vị ấy gọi là Tỳkhưu”, hay “hủy diệt quan kiến sai lầm, gọi là Tỳkhưu”.
Quan kiến sai lầm ở đây là thấy “ta” và “của ta”. Trong kinh điển Đức Phật thường khuyến cáo các môn đệ “hãy lìa bỏ cái ta và cái của ta”, vì đó là chướng ngại (palibodha) trước tiên cho sự chứng đắc Thánh quả.
- Bhinna kilesa = bhikkhu:
Đã loại trừ phiền não, là tỳkhưu” [47] .
Rõ ràng hơn là:“Sattannaṃ dhammānaṃ bhinnattā bhikkhu [48] .
“Trừ diệt bảy pháp (đưa đến luân hồi), gọi là tỳkhưu”.
Bảy pháp đó là gì?
Đó là: Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā), giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa), luyến ái (rāga), sân (dosa), mạn (māna).
“Paṭipannako hī devo vā hotu manusso vā bhikkhu’ti saṅkhayaṃ gacchatiyeva”.
“Người thực hành đi đến phá hủy (tội lỗi), dù là người hay chư Thiên, đều được xem là tỳkhưu”.
Đây là ý nghĩa của phá ác.
Như vậy, bhikkhu (tỳkhưu) có ba nghĩa:
- Kẻ đi xin ăn.
- Kẻ kinh sợ phiền não luân hồi.
- Kẻ hủy diệt điều xấu xa, tội lỗi.
Điều 1 là hình thức tỳkhưu, hai điều sau là “tâm lý tỳkhưu”.

XUẤT LY ĐỘ
TK Chánh Minh

28 thg 12, 2014

Nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng

Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!

II. Phỉ Báng (S.i,161)

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
3) Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
4) Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
5) -- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
6) -- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
7) -- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
8) -- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
9) -- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
10) -- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông!