3 thg 5, 2018

Thiền Sư Goenka Trả Lời Về Nghiệp

Thiền Sư Goenka Trả Lời Về Nghiệp.

Hỏi: Không có chuyện gì xảy ra tình cờ, không có nguyên nhân sao?
Goenkaji: Không có gì xảy ra mà không có nguyên nhân cả. Đó là điều không thể có được. Đôi khi các giác quan và tri thức giới hạn của chúng ta không thể thấy rõ nó, nhưng điều đó không có nghĩa rằng không có nhân.
Hỏi: Có phải ngài nói rằng mọi việc trong đời này đã được tiền định?
Goenkaji: Đúng vậy, chắc chắn những nghiệp quá khứ của chúng ta sẽ cho ra quả, hoặc tốt hoặc xấu. Những quả này sẽ quyết định loại cuộc sống chúng ta sống, hoàn cảnh chung trong đó chúng ta sống. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng điều gì xảy ra với chúng ta cũng đã được tiền định, hay được quy định bởi những nghiệp quá khứ của chúng ta, và không gì khác có thể xảy ra. Không đúng như thế. Nghiệp quá khứ ảnh hưởng đến dòng sống của chúng ta, hướng chúng ta đến những trải nghiệm vui hay buồn (tương ứng với nghiệp chúng ta đã tạo) trong cuộc sống. Nhưng nghiệp hiện tại cũng quan trọng không kém.
Thiên nhiên đã cho chúng ta khả năng để trở thành chủ nhân của những nghiệp hiện tại của chúng ta. Với quyền làm chủ ấy chúng ta có thể thay đổi được tương lai của chúng ta.
Hỏi: Nhưng chắc chắn nghiệp của người khác cũng ảnh hưởng đến chúng ta chứ?
Goenkaji: Dĩ nhiên.
Chúng ta bị ảnh hưởng bởi những người chung quanh chúng ta và bởi môi trường chung quanh chúng ta, và chúng ta cũng ảnh hưởng tới họ nữa.
Chẳng hạn như, nếu đa số mọi người đều ủng hộ bạo lực, chiến tranh va sự hủy diệt sẽ xảy ra, khiến nhiều người phải khổ.
Nhưng nếu con người bắt đầu thanh tịnh tâm của họ, bạo lực không thể xảy ra.
Căn nguyên của vấn đề nằm trong tâm của mỗi người, bởi vì, suy cho cùng, xã hội là do các cá nhân tạo thành.
Nếu mỗi người tự thay đổi mình, thời xã hội sẽ thay đổi, lúc đó chiến tranh và sự hủy diệt sẽ trở thành những sự kiện hiếm hoi.
(Questions and Answers.
Q: Aren’t there any chance happenings, random occurrences without a cause?
Goenkaji: Nothing happens without a cause.
It is not possible.
Sometimes our limited senses and intellects cannot clearly find it, but that does not mean that there is no cause.
Q: Are you saying that everything in this life is predetermined?
Goenkaji: Well, certainly our past actions will give fruit, good or bad.
They will determine the type of life we have, the general situation in which we find ourselves.
But that does not mean that whatever happens to us is predestined, ordained by our past actions, and that nothing else can happen.
That is not the case.
Our past actions influence the flow of our life, directing them towards pleasant or unpleasant experiences.
But present actions are equally important.
Nature has given us the ability to become masters of our present actions.
With the mastery we can change our future.
Q: But surely the actions of others also affect us?
Goenkaji: Of course.
We are influenced by the people around us and by our environment, and we keep influencing them as well.
If the majority of people, for example, are in favour of violence, then war and destruction occur, causing many to suffer.
But if people start to purify their minds, then violence cannot happen.
The root of the problem lies in the mind of each individual human being, because society is composed of individuals.
If each person starts changing, then society will change, and war and destructions will become rare events.)

sourse : FB @ TK Pháp Thông

Sức Mạnh

Sức Mạnh
1.- Này các Tỷ-kheo, có tám sức mạnh này. Thế nào là tám?
2. Này các Tỷ-kheo, sức mạnh của con nít là khóc; sức mạnh của đàn bà là phẫn nộ; sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí; sức mạnh của các vua chúa là uy quyền; sức mạnh của kẻ ngu là kêu ca, oán trách; sức mạnh của bậc Hiền trí là thận trọng; sức mạnh của vị nghe nhiều là suy xét; sức mạnh của Sa-môn, Bà-la-môn là nhẫn nại.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám sức mạnh.
Tăng Chi Kinh - HT Minh Châu.

(Powers
“Bhikkhus, there are these eight powers. What eight? (1) The power of children is weeping; (2) the power of women is anger;
(3) the power of thieves is a weapon; (4) the power of kings is sovereignty; (5) the power of fools is to complain; (6) the power of the wise is to deliberate; (7) the power of the learned is reflection; (8) the power of ascetics and brahmins is patience. These are the eight powers.

FB @ TK PHÁP THÔNG

PHẬT MÔN BÍ DƯỢC- Toại Khanh sưu khảo

PHẬT MÔN BÍ DƯỢC
Toại Khanh sưu khảo


Năm nay tôi đã gần bốn mươi tuổi, nhưng nếu tiền nghiệp cho sống đến trăm tuổi mà có ai hỏi về phép trường sinh ích thọ thì trước sau tôi cũng cho họ mỗi toa thuốc này. Phù âm ích dương, tráng khí bổ huyết, tiêu độc nhuận trường, tất thảy đều có thể dùng mỗi bài thuốc này. Tùy theo bệnh trạng và thể chất mỗi người mà liều lượng linh động gia giảm cho thích hợp.
Người xuất gia đúng nghĩa thường như mây ngàn hạc nội, tứ hải vi gia và đại giang nam bắc đều là những quán trọ. Bước đường trôi nổi xô giạt này thường có lắm hiểm nạn. Thôi thì độc chưởng, ám khí, đắng ngọt đủ cả, và lành ít dữ nhiều. Dặm trường không bạn, trăm sự tự liệu. Vì đó mà kẻ hành tẩu ít nhiều cũng phải có sẵn vài ba bí phương phòng thân. Nội dung của bài thuốc này dẫn xuất từ bài thiệu thứ hai của Phật điển Trung Bộ.
Trước sau bài thuốc chỉ có bảy vị:
1) Tri Kiến Tuyết Liên: Có những tục lụy phải được chấm dứt bằng cái nhìn quán chiếu như thật. Sự hiện hữu của muôn loài chỉ là sự kết nối của năm uẩn vốn vô thường, khổ, không. Không hề có một con sông hay biển cả nào trong những giọt nước.
2) Hộ Căn Kỳ Sâm: Có những tục lụy phải được giải quyết từ sự phong bế các đại huyệt mà Phật gia gọi là Lục Căn không để bát phong thần chưởng của nhân gian xô động. Phòng cháy luôn tốt hơn chữa cháy. (được/mất, nhục/vinh, khen/chê, khổ/vui)
3) Thọ Dụng Sâm Thương Thảo: Có khi tục lụy được giải quyết bằng sự sử dụng khôn ngoan vài thứ vật chất nhu yếu như thêm dầu vào đèn, tưới nước vào cây. Đời tu không sao phủ nhận triệt để mọi tiếp liệu, nhưng phải luôn ở mức Cần và Đủ.
4) Kham Độc Thần Sa: Đôi lúc tục lụy được dàn xếp chỉ bằng chút khả năng gồng mình chịu đựng của hành giả. Từ nắng gió mưa sương đến những trò đời nghiệt ngã đều phải được đón nhận bằng hai hàm răng cắn chặt. Bị đau nhưng không để khổ, bị thất nhưng không bại, nghèo nhưng không hèn, nhẫn mà không nhục.
5) Đào Tị Lăng Ba Thủy: Nhiều lúc tục lụy phải được chấm dứt bằng sự lẩn tránh. Không phải lúc nào sự đương đầu đối mặt cũng là thượng sách khi mà hành giả chưa đủ nội lực hoặc sự va chạm đó không thực sự cần thiết mà chỉ làm tiêu hao tâm huyết.
6) Khu Tà Tục Cốt Tán: Có những trường hợp tục lụy cần được chấm dứt bằng sự trực diện để nhổ cỏ tận gốc. Biết đó là ác niệm độc hại thì lập tức đối trừ không lần lửa.
7) Huân Tu Tráng Lực Đơn: Là trường hợp các tục lụy được giải quyết bằng việc tu tập các Giác Chi theo thế đối trọng. Thiện đến thì ác đi. Trong một không gian nội tâm không thể cùng lúc hiện hữu hai món tương khắc. Bởi xưa nay chánh tà bất lưỡng lập.
Thánh hiền ba đời vẫn tự tại trong đời bằng bảy phương thần dược đó. Phàm nhờ đây mà ra thánh và thánh cũng theo đó mà an lạc suốt buổi bình sinh.
Mong thiên hạ lại vui trong mùa đông về, như tôi vẫn ngày ngày an lạc. Vì suy cho cùng cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ Phật pháp và trong lòng những hành giả trên đường về Kusinara thì hôm qua hay hôm nay cũng là một ngày như mọi ngày mà thôi. Mong thay!
Toại Khanh sưu khảo

17 thg 2, 2018

KINH TỪ TÂM GIẢI THOÁT


(XXVII) (Ek III, 7) (It. 19)

Ðiều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, ví như ánh sáng của chùm sao, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng vượt quả ánh sáng của chùm sao chói sáng, bừng sáng, và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, ví như vào tháng cuối mùa mưa, vào mùa thu, trên bầu trời thanh tịnh, các mây được quét sạch, mặt trời mọc lên trên bầu trời, phá tan mọi tối tăm ở hư không, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát, vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Ví như này các Tỷ-kheo, vào tháng cuối mùa mưa, vào tiết mùa thu, khi hư không mở rộng không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên trời không, quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Ví như này các Tỷ-kheo, khi đêm đã gần tàn, sao mai chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, phàm có những nghiệp vụ nào đưa đến sanh y, tất cả những nghiệp vụ ấy không bằng một phần mười sáu từ tâm giải thoát. Chỉ có từ tâm giải thoát vượt qua chúng, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói đến.

Ai tu tập từ tâm,
Không phóng dật chánh niệm,
Các kiết sử giảm thiểu,
Nhờ thấy sanh y diệt.
Nếu tâm không độc ác,
Ðối với một hữu tình,
Với từ tâm như vậy,
Vị ấy là bậc Thiện,
Với tâm tư từ mẫn,
Ðối tất cả hữu tình,
Bậc Thánh tự tác thành,
Công đức thật vô lượng.
Ai chiến thắng quả đất,
Ðầy dẫy những hữu tình,
Bậc vua chúa chơn chánh,
Như các vị tiên nhân,
Tổ chức khắp mọi nơi,
Ðủ các loại tế đàn,
Lễ tế đàn với ngựa,
Lễ tế đàn với người,
Quăng cọc, rượu chiến thắng,
Lễ chốt cửa dẹp lại,
Họ không tác thành được
Một phần thứ mười sáu,
Với người khéo tu tập,
Tâm ý thật từ mẫn,
Như ánh sáng mặt trăng,
Thắng sáng mọi vì sao,
Ai không có giết hại,
Không khiến người giết hại,
Không có chinh phục người,
Không khiến người chinh phục,
Với tâm tư từ mẫn,
Ðối với mọi chúng sanh,
Vị ấy không hận thù,
Ðối với bất cứ ai.
Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến, và tôi đã được nghe.



Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya


Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Kinh Phật Thuyết Như Vậy (Như Thị Ngữ)
Itivuttaka

Chương 1-2

Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp.


Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp. 

Phần kinh văn: 

Ðiều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:

18 thg 1, 2018

Sấp tài liệu sưu tầm 1


"Chẳng có gì là chắc chắn cả."
"Nothing is certain."
*****
Cái thấy cái biết trong bóng tối mê mờ của tham ái và vô minh là cái thấy cái biết đảo điên, chúng luôn lừa đảo phỉnh gạt dẫn dắt chúng sinh lang bạt trong khổ đau của sinh tử luân hồi hết kiếp này sang kiếp khác từ vô lượng kiếp tới nay và mai sau. Chớ có tin vào chúng. Hãy đoạn tận chúng bởi minh giải thoát được vun bồi bởi Bát Thánh Đạo.
Xin hãy đừng phí phạm, dù chỉ mỗi một giây.

16 thg 1, 2018

I know why the caged bird sings-Maya Angelou

*I know why the caged bird sings*

(Maya Angelou)

A free bird leaps on the back of the wind
and floats downstream till the current ends 
and dips his wing in the orange suns rays
and dares to claim the sky.

Tu Dưỡng Tâm Từ Bằng Thiền Chánh Niệm (Ajahn Pasanno)

Tu Dưỡng Tâm Từ Bằng Thiền Chánh Niệm
Thiền Sư Ajahn Pasanno
Trần Trọng Hiếu chuyển ngữ

(my bookmarks, notes and highlight)



18 thg 10, 2017

[sách nói] 9 Yếu Tố Giúp Tăng Trưởng Ngũ Căn

[sách nói] 9 Yếu Tố Giúp Tăng Trưởng Ngũ Căn
                           Thiền Sư U Paṇḍitā Sayādaw



12 thg 9, 2017

Không tụng làm nhớp kinh

‘Asajjhāyamalā mantā, anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ, pamādo rakkhato malaṃ.
Malitthiyā duccaritaṃ, maccheraṃ dadato malaṃ;
Malā ve pāpakā dhammā, asmiṃ loke paramhi ca;
Tato malā malataraṃ, avijjā paramaṃ malan ”ti.
TỪ “MALA” Ở BÀI KỆ TÓM TẮT: vẫn là danh tự = “cấu uế, vết nhơ” chứ không phải là động từ = “làm nhớp.”
♦ Asajjhāyamalā mantā = “Không tụng làm nhớp kinh” => “chú thuật có việc không đọc tụng là vết nhơ.” 
♦ anuṭṭhānamalā gharā = Không dậy làm nhớp nhà => Căn nhà có sự không đứng dậy là vết nhơ. 
♦ Malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ = Biếng nhác làm nhớp dung sắc => biếng nhác là vết nhơ của dung sắc.
♦ pamādo rakkhato malaṃ = Phóng dật làm nhớp phòng hộ => phóng dật là vết nhơ của người phòng hộ
♦ Malitthiyā duccaritaṃ = Ác hạnh nhớp mỹ nhân => ác hạnh là vết nhơ của nữ nhân
♦ maccheraṃ dadato malaṃ = Xan tham nhớp bố thí => bỏn xẻn là vết nhơ của người bố thí.
♦ Malā ve pāpakā dhammā = Các pháp ác làm nhớp => Các vết nhơ quả thật là các ác pháp. 


Via FB Bhikkhu Indacanda 

6 thg 3, 2017

10 điều quán tưởng trạng thái ô trược trong vật thực

ÐỀ MỤC VẬT THỰC Ô TRƯỢC TƯỞNG (Ahārepatikūlasaññā)

Quán tưởng trạng thái ô trược trong vật thực theo 10 điều như vầy:
1- Ô trược do đường đi (gamanāto): Nên quán tưởng cho thấy rằng: thực phẩm này là món đáng gớm, từ khi ra chỗ ở, đi đến xóm nhà, lội ngang bùn lầy, đạp trên vật không sạch như nước tiểu, phẩn...;
2- Ô trược do sự tìm kiếm (pariyesanato): Nên quán tưởng cho thấy rằng: thực phẩm này là món đáng gờm, do sự đi tìm theo mỗi nhà, gặp chó chạy theo sủa cắn, trâu bò nghinh rượt, ruồi xanh bay đậu trên đầu cũng có. Có người cho có kẻ không cho, người cho nhiều, kẻ cho ít, người cho cơm thiu bánh cũ, kẻ làm tuồng không thấy, hoặc nói lời khinh bỉ;
3- Ô trược do sự ăn (paribhogato): Nên quán tưởng cho thấy rằng: thực phẩm này là món đáng nhờm theo sự ăn, vắt cơm bằng tay có mồ hôi, nhớt chảy rớt vào đến khi ăn, vật thực nhiều món đều lẫn lộn nhau cả, răng nhai, lưỡi lừa, nước miếng thấm vào có trạng thái như đồ chó mửa, dính theo chân răng, thật rất đáng nhờm gớm.
4- Ô trược theo chỗ trú (āsayato): Chỗ trú có 4:
a) chỗ trú của mật (pitāsaya)
b) chỗ trú của đàm (semhāsayac) chỗ trú của mủ (pubbāsaya)
d) chỗ trú của máu (lohitāsaya)
Trong bốn chỗ trú ấy, đức Phật Toàn giác, đức Ðộc giác Phật và đức Chuyển luân vương chỉ có một. Còn những người thiểu phước, ít trí huệ thì có điều đủ.
Cớ ấy, người có đàm nhiều, thì thực phẩm ăn vào như dính dầu cà na đặc, rất đáng gớm. Người có đàm nhiều như dính vị củ tỏi hoặc lá tỏi; người có mủ nhiều như dính sữa thiu; người có máu nhiều như dính nước chấm, rất đáng gớm.
5- Ô trược theo chỗ trú trong bụng (nidhānato): Nên quán tưởng cho thấy rằng: Thực phẩm dính theo một trong bốn chỗ trú rồi vào đến bụng, chẳng phải được đựng trong đồ vàng bạc đâu. Nghĩa là: nếu người ăn vào sống được 10 tuổi, 20 tuổi... 100 tuổi, thì thực phẩm vào trong chỗ rõ rệt như lỗ xí mà người không rửa trong 10 năm, 20 năm... 100 năm, thật rất nhờm gớm;
6- Ô trược do trạng thái chưa tiêu hóa (aparipakkhato): Nên quán tưởng cho thấy rõ rằng: Thực phẩm vào trong chỗ rất đáng nhờm gớm như thế, khi chưa tiêu hóa, dầu là thực phẩm mới ăn vào trong bữa nay, đã ăn trong ngày hôm qua, hoặc trong các ngày trước, cũng đều nhập cục nhau cả, có đàm bao bọc, chất lửa trong thân, hâm hấp thành bọt bèo nhỏ lớn, có mùi như tử thi thiệt đáng nhờm gớm.
7- Ô trược theo trạng thái đã tiêu hóa (Paripakkhato): Nên quán tưởng cho thấy rằng: thực phẩm mà chất lửa hâm hấp trong bụng đã tiêu hóa rồi, chẳng phải biến thành vàng bạc chi đâu, chỉ thành bọt nhỏ lớn, phần nào thành phẩn thì vào chỗ phẩn, như đất sét vàng mà người đã nhồi nhuyễn rồi để trong lóng tre, có phần thành nước tiểu, thật rất nhờm gớm.
8- Ô trược theo quả (Phalato): Nên quán tưởng cho thấy rõ rằng: Phần nào tốt để tiêu hóa thì làm cho tất cả thân thể (tóc, lông, móng, răng, da), tươi tốt, còn phần không tốt cho sanh nhiều chứng bệnh ngoài da.
9- Ô trược theo sự chảy ra (Pissantato): Nên quán tưởng cho thấy rõ rằng: Thực phẩm này, khi ăn vào một cửa, đến lúc chảy ra, theo nhiều cửa. Vật nào ra theo mắt gọi là ghèn, theo tai gọi là cứt ráy v.v... Hoặc nên quán tưởng cho thấy nhơ nhớp rằng: Thực phẩm này khi ăn vào thì người hay gọi mời nhiều kẻ khác cùng ăn chung, vui cười hớn hở đến lúc biến thành nước tiểu, phẩn chảy ra, đi đại tiểu tiện một mình trong nơi vắng vẻ, thật rất nhờm gớm.
10- Ô trược theo sự chảy, dính lấm (Sammakkhanato): Nên quán tưởng cho thấy rõ rằng: Vật thực này, khi ăn vào cũng lấm tay, môi. Sau khi ăn rồi chất lửa trong thân quạt đi khắp nơi, đến dính răng, lưỡi, giang môn... thiệt rất đáng nhờm gớm.

Khi hành giả quán tưởng trạng thái nhờm gớm của vật thực theo 10 thể như đã giải, thì thực phẩm rõ rệt theo thể nhớp đục. Nếu được quán tưởng thường thường như thế, năm pháp cái yên lặng, tâm cũng an trụ vững vàng, vào bậc cận định. Nhưng không nhập định được vì đề mục thực phẩm "Ô trược tưởng" chỉ có thắng lực đến bực cận định thôi.


(sách) Ðường vào Thiền học
PHÁP CHÁNH ÐỊNH và SƯU TẬP PHÁP
Hòa thượng HỘ TÔNG

BẬC TUỆ GIẢI THOÁT - BẬC CÂU PHẦN GIẢI THOÁT

BẬC TUỆ GIẢI THOÁT - BẬC CÂU PHẦN GIẢI THOÁT
__Dù Các Vị có tu tập cái nào trước thì cũng sẽ xuất hiện Tam Tướng Vô Lậu:
Khi vị ấy tu tập Giới Hạnh (tập khởi từ chánh kiến) thì vị ấy sẽ có Chánh Định.
Khi vị ấy tu tập Chánh Định (tập khởi từ giới hạnh) thì vị ấy sẽ có Trí Tuệ.
Khi vị ấy tu tập Trí Tuệ (tập khởi từ chánh định) thì vị ấy sẽ có Giới Hạnh.
"Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Tôn giả Gotama, cũng như lấy bàn tay rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân; cũng vậy, Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời.
22. - Thật như vậy, này Bà-la-môn . Này Bà-la-môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời."
(Trường Bộ Kinh số 4. Kinh Sonadanda)
__Bậc Câu Phần Giải Thoát:
"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người câu phần giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói rằng không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật, vị ấy không có thể trở thành phóng dật."
__Bậc Tuệ Giải Thoát:
"Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc tuệ giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo này, Ta nói không có sự việc cần phải làm, nhờ không phóng dật. Vì sao vậy? Vì sự việc ấy đã được vị này làm, nhờ không phóng dật; vị ấy không có thể trở thành phóng dật."
(trích Trung Bộ Kinh số 70 - Kinh Kìtàgiri)
__Hiện Tại Lạc Trú:
"Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây một Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh." <-- Chánh Định Thiền Thứ Nhất
"Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh." <-- Chánh Định Thiền Thứ Hai
"Này Cunda, sự kiện này xảy ra khi ở đây, một Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Vị ấy có thể nghĩ "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới của bậc Thánh" <-- Chánh Định Thiền Thứ Ba
"Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh." <-- Chánh Định Thiền Thứ Tư
(trích Trung Bộ Kinh số 8 - Kinh đoạn Giảm)
__Tịch Tịnh Trú:
"Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng. Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Vị ấy có thể tự nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh. <-- Vô sắc định thứ nhất
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh. <-- Vô sắc định thứ hai
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh. <-- Vô sắc định thứ ba
Này Cunda, sự kiện này xảy ra, khi một Tỷ-kheo vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy có thể nghĩ: "Ta sống với hạnh đoạn giảm". Này Cunda, các (quả chứng) ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là tịch tịnh trú trong giới luật của bậc Thánh." <-- Vô sắc định thứ tư
(trích Trung Bộ Kinh số 8 - Kinh đoạn Giảm)
Các Bạn có để ý ở trên Phật nói: "Thân không trải qua chứng đắc các tịch tịnh giải thoát" <-- Tịch tịnh giải thoát này là phương tiện để vào diệt thọ tưởng định (diệt khổ thân) <-- Cái quan trọng là Tuệ giải thoát (diệt khổ tâm) <-- bất động tâm giải thoát mới mà mục đích chính của Phạm Hạnh hướng đến. Chính tâm tham ái dong ruỗi lang thang không định hướng trong ta bà luân hồi này.
Tại sao Phật không nói là "TÂM không trải qua chứng đắc các tịch tịnh".. mà lại nói là "THÂN không trải qua chứng đắc các tịch tịnh".. vậy các Bạn có hiểu ý pháp của Phật không? <-- vì đây là phần dính thêm vào (câu phần) ở sự Giải Thoát <-- muốn thì sau khi đạt giải thoát thì trú vào <-- Trên bước đường tu học để đạt Bất Động Tâm Giải Thoát không cần đến định tịch tịnh trú này chứ không phải là không cần Chánh Thiền Định (Hiện Tại Lạc Trú) như một số Vị nào đó đã nói.
__Thực Hành quán (Niệm Xứ) kiểu gì mà không sanh Chánh Định (7 giác chi)? Thực hành quán kiểu gì mà không sanh ra đời sống Thánh Giới Tuệ (đời sống trắng bạch như vỏ ốc, phóng thoáng như hư không)?
__Trong Đạo Đế diệt khổ tám ngành thì Chánh Niệm <-- chính là đời sống tỉnh giác quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp để chế phục tham ưu thanh lọc tâm ô nhiễm (tham sân si) <-- do Chánh Niệm nên trạng thái Chánh Định sanh khởi <-- Chánh Định này có 4 trạng thái như sau:
Trạng thái Thiền thứ nhất Sơ Chánh Định (ngọn - sơ định) <-- hỷ lạc do ly dục ly bất thiện pháp sanh (hỷ lạc do xả ly 5 triền cái)
Trạng thái Thiền thứ hai Trú chánh định (cành - trú định) <-- hỷ lạc do định sanh (hỷ lạc trong tỉnh giác không tầm không tứ)
Trạng thái Thiền thứ ba Cận chánh định (vỏ - cận định) <-- ly hỷ trú xả (thuần lạc không có hỷ)
Trạng thái Thiền thứ tư Chánh Chánh Định (lõi - chánh định) <-- thuần tịnh trong sáng vô nhiểm (xả lạc xả khổ diệt hỷ và ưu đã cảm thọ trước)
Kính Tưởng Đức Thế Tôn Gotama - Vị Phật Có Thật Của Nhân Loại

nguồn: FB Đạo Tràng Phật Học

Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh

"Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh; người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời. Tôn giả Gotama, cũng như lấy bàn tay rửa bàn tay, lấy bàn chân để rửa bàn chân; cũng vậy, Tôn giả Gotama, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời.

(Trường Bộ Kinh số 4. Kinh Sonadanda)

20 thg 11, 2016

Vô Ngã Vô Ưu - Ayyā Khemā

Vô Ngã Vô Ưu 
Tác giả: Ni Sư  Ayyā Khemā

Nguyên tác "Being Nobody, Going Nowhere - Meditations On The Buddhist Path", Wisdom Publications, 1987
Tổng hợp các bài giảng của Ni Sư Ayyā Khemā trong khóa tu Thiền 10 ngày ở Kundasale, Sri Lanka. 
Diệu Liên Lý Thu Linh dịch Việt - Người đọc: Thanh Cúc





Lời tựa - Tác giả - Lời người dịch - 00:00

Chương 1: Thiền: Lý Do Và Phương Pháp - 6:30
Chương 2: Ảnh Hưởng của Thiền đến đời sống chúng ta - 34:42
Chương 3: Thanh Tịnh Và Tỉnh Giác - 48:15
Chương 4: Tứ Vô Lượng Tâm - 1:17:55
Chương 5: Từ Bi Quán - 2:09:02
Chương 6: Năm Chướng Ngại - 2:12:34
Chương 7: Nghiệp và Luân Hồi - 3:33:15
Chương 8: Kinh Từ Bi - 3:59:41
Chương 9: Bốn Hỷ Lạc - 4:48:23
Chương 10: Ngũ Uẩn - 5:14:03
Chương 11: Mười Điều Thiện - 5:39:10
Chương 12: Tứ Diệu Ðế và Bát Chánh Ðạo - 6:25:41
Chương 13: Một Cuộc Bắt Đầu Mới - 7:39:23